Những Quy chuẩn nước nuôi tôm mà người nông dân cần biết

15/10/2025
Tác giả: Sưu tầm Internet Năm: 2022
Quy chuẩn nước nuôi tôm là điều mà mọi người nuôi tôm cũng đều phải biết, thế nhưng nước như thế nào là đủ quy chuẩn nước nuôi tôm. Chất lượng của nước quyết định hơn phân nửa sự thành công của vụ nuôi, tôm khỏe mạnh hay không, ưa bệnh hay không, mau lớn hay không đều do chất lượng nước quyết định. Nước cần phải sạch, phải đủ dinh dưỡng thì tôm mới phát triển bình thường được.
kiềm là các thông số hoàn toàn khác nhau. Rất nhiều người nhầm lẫn lộn hai đại lượng này.
 
Độ khoáng và tỉ lệ khoáng trong nước biển (độ mặn 35 ‰) được cho trong bảng. Nước lợ từ sông ngòi có tỉ lệ các khoáng tương tự như trong muối biển. Hàm lượng khoáng trong nước lợ được tính như sau: Khoáng trong nước biển × độ muối (ppt) : 35.
 
Độ mặn Ca (mg/l) Mg (mg/l) K (mg/l) Mg:Ca:K
35%o 400 1290 380 3,2:1:0,9
Với tôm nuôi trong môi trường nước lợ thì quan trọng hơn cả là tỉ lệ Mg:Ca:K. Tỉ lệ này phải bằng với trong nước biển để tôm phát triển bình thường.
 
Nước sông và nước biển tự nhiên đảm bảo các yếu tố khoáng, là nước tốt nhất cho tôm. Tuy nhiên, hàm lượng khoáng Magiê trong nước cũ lâu ngày giảm do bị đất hấp thu, nên cần bổ xung muối Magiê Clorua hay Magiê Sulphat.
 
Nước giếng khoan rất khác với nước sông và nước sông hồ và nước biển. Cụ thể, hàm lượng kali, magiê và canxi thường thấp hơn trong nước nước biển và nước lợ từ sông ngòi. Do đó, nhất thiết phải kiểm tra Kali, Magiê, và Canxi và điều chỉnh về giá trị cần thiết.
 
8. Độ trong
Nước trong hay đục là do phù sa lơ lửng hay quần thể vi sinh vật (tảo và vi khuẩn). Tảo rất quan trọng, vì tảo vừa là nguồn thức ăn, vừa là nguồn cung cấp và tiêu thụ ôxy hòa tan. Có tảo lợi nhưng cũng có tảo hại như tảo lam. Tảo nhiều thì ban ngày ôxy hòa tan cao, nhưng đêm ôxy hòa tan lại thấp, do đó cần giữ mật độ tảo vừa phải. Đục do phù xa không có lợi cho sự phát triển của tảo, nên cần lắng trước khi gây màu nước (gây tảo). Khi phù xa đã lắng, thì độ trong/đục của nước đặc trưng cho nồng độ tảo. Độ trong 30 – 35 cm là tối ưu cho nước nuôi tôm.
 
9. Sunphua hyđrô (H2S)
Suynphua Hyđrô là khí rất độc đối với tôm và động vật trong đó có người. H2S hình thành do sự phân hủy yếm khí thức ăn thừa, xác cây cỏ và chất thải của vật nuôi, hay từ iôn Sunphat nhờ vi khuẩn khử Suynphat. Bùn đáy có màu đen và có mùi trứng thối là vì sự hiện diện của H2S. Các ao đất phèn có nguy cơ bị nhiễm Suynphua Hydrô cao.
 
Tôm ưa sống gần lớp bùn, nên sự tích tụ H2S trong bùn đáy và lớp nước đáy ảnh hưởng rất lớn. Tôm mệt mỏi khi H2S 0,1 –0, 2 mg/l; chết từ từ và chìm xuống đáy khi nồng độ H2S trong nước đáy là 0,9 mg/l, cho dù ôxy cao; và chết ngay lập tức khi H2S lên 4 mg/l.
 
Theo TCVN cho nước nuôi tôm, nồng độ sunphua tự do H2S không được vượt quá 0,05 mg/l.
 
10. Nitrat (NO3–)
Nitrat không độc và là dưỡng chất để tảo phát triển. Tôm không bị ảnh hưởng của nồng độ NO3– ở 900 mg/l. Tuy nhiên NO3 quá cao sẽ dẫn đến hiện tượng phú dưỡng; tảo, trong đó có tảo độc phát triển mạnh, làm giảm chất lượng nước.
 
Nói chung, nitrat không phải là vấn đề cần quan tâm, nên thường không cần theo dõi.
 
11. Amôniac (NH3)
Amôniac rất độc với tôm. Thử nghiệm trên 5 loại tôm cho thấy, NH30.45 mg/L làm giảm tốc độ lớn 50%. Theo TCVN, nồng độ amôniac tự do NH3trong nước nuôi tôm không được vượt ngưỡng 0,3 mg/l, nhưng ngưỡng tối ưu là 0,1 mg/l.
 
Muốn đo amôniac trong ao tôm nước lợ, ta cần dùng các kit đo dành cho cả nước ngọt và nước mặn bằng phương pháp salicilat
 
12. Nitrit
Nitrit NO2– là chất độc cho con nuôi. Nitrit ngấm vào cơ thể tôm cá qua mang và da. Nitrit tác dụng với máu, làm quá trình vận chuyển ôxy trong cơ thể trở nên khó khăn, con nuôi èo uột, chậm lớn, dễ bị bệnh và thậm chí tử vong. Đặc biệt, cá rất nhậy cảm với nitrit. Giới hạn nitrit cho ao tôm là 1 mg/l NO2– (hay 0,3 mg/l NO2–/N).
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây